Lập luận mới về cách các trường học Việt Nam nên tiến lên.

Một cuộc kiểm tra cẩn thận về giáo dục đại học ở Hoa Kỳ sẽ tiết lộ nhiều lý do tại sao điều đó thật không khôn ngoan đối với Việt Nam – hoặc bất kỳ quốc gia nào khác – để bắt chước hệ thống của Mỹ. Chi phí giáo dục đại học ở Hoa Kỳ là cực kỳ cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Tại nhiều trường đại học tư, chi phí trung bình của một năm học phí, lệ phí, nhà ở và bữa ăn hiện đã vượt quá 60.000 đô la. (Chi phí gần bằng một nửa tại các trường đại học công lập.)

Một lý do cho chi phí cao là sự phát triển của nạn quan liêu. Các trường đại học thường có nhiều nhân viên hành chính như giảng viên, và có nhiều tòa nhà chỉ có văn phòng hành chính.

Các quản trị viên này dành phần lớn thời gian của họ để tham dự các cuộc họp vô nghĩa, tham dự các hội nghị không cần thiết đắt tiền và tạo ra một số lượng lớn các ấn phẩm lãng phí mà hầu như không ai đọc. Danh sách các cấp bậc hành chính hàng đầu bao gồm: tổng thống, nhiều phó chủ tịch, người khiêu khích, một số phó hiệu trưởng, một số phó giám đốc, nhiều trưởng khoa, phó khoa và phó trưởng khoa.

Mức độ quan liêu trong một trường đại học hiện đại của Mỹ rất nhiều đến nỗi tiếng Việt không có đủ từ cho họ; một đồng nghiệp đã dịch một bài báo của tôi nói với tôi rằng anh ta phải phát minh ra một từ tiếng Việt mới cho prov provost. Theo hiểu biết tốt nhất của tôi, các trường đại học của Mỹ quan liêu hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới, như được đo ví dụ, theo tỷ lệ của quản trị viên cho các giáo sư.

Các trường đại học Mỹ đã phải hạ thấp trình độ học thuật của các khóa học đại học của họ. Trường đại học của tôi thu hút sinh viên tương đối tốt, bởi vì Đại học Washington là trường đại học hàng đầu ở phía tây bắc của đất nước. Tuy nhiên, vì “Lạm phát điểm số”, (điểm số ngày càng cao được trao cho bài làm chất lượng bình thường) và “Đơn giản hoá” (loại bỏ kiến thức khó khỏi giáo trình), những sinh viên này đã quen với việc đạt điểm cao trong rất ít nỗ lực. Trong suốt 25 năm qua, mức độ chuẩn bị cho các học sinh mới vào trường của chúng tôi đã giảm dần.

Cách đây vài năm, một đồng nghiệp của tôi, người dạy một khóa học giới thiệu về Khoa học Khí quyển đã thất vọng với các sinh viên của mình, không thể hiểu được toán học mà anh ta đang sử dụng. Để xác định những lỗ hổng trong quá trình chuẩn bị toán học của họ, ông đã cho họ một bài kiểm tra trong toán học cơ bản. Khi ông yêu cầu họ chia 25 × 108 cho 5 × 10-5, 63 phần trăm không trả lời đúng; và 31 phần trăm học sinh của mình không thể đưa ra công thức cho diện tích hình tròn bán kính r.

Kể từ đó, mức độ chuẩn bị và thái độ học tập của hầu hết các học sinh của chúng tôi đã tiếp tục xấu đi. Trong một bài giảng gần đây về tính toán, tôi đã giải thích cách giải quyết một vấn đề đòi hỏi chúng ta phải biết khi nào đạo hàm của một số hàm là âm. Tôi đến biểu thức (x – 1) (x – 2) và hỏi cả lớp, Khi nào thì biểu thức này là âm? Dừng một lúc, tôi nói thêm “Tích của hai số là âm nếu một trong số đó là số dương và số còn lại là số âm. Với giá trị nào của x thì hai thừa số của (x − 1) (x − 2) khác dấu? Một sau một thời gian dài, một học sinh giơ tay và trả lời đúng.

Do sự kết hợp của các vấn đề cá nhân, áp lực tài chính và sự chuẩn bị thường xuyên về toán và các môn học khác, gần một nửa số học sinh tham gia các chương trình đại học bốn năm không thành công trong bốn, hoặc thậm chí sáu năm. Điều này đã khiến nhiều nhà bình luận ở Hoa Kỳ nói rằng giáo dục đại học ở Mỹ rất kém hiệu quả cũng như quá đắt.

Trong số các giáo sư Mỹ có một thỏa thuận rộng rãi rằng các trường đại học của chúng ta có những vấn đề rất lớn, chẳng hạn như quan liêu thái quá và sinh viên chuẩn bị kém. Tuy nhiên, các quan chức Hoa Kỳ đến Việt Nam truyền đạt một ấn tượng hoàn toàn khác thường về các trường đại học của chúng tôi. Họ đã nhiều lần kêu gọi chính phủ Việt Nam nhập khẩu phương pháp tiếp cận của Mỹ vào giáo dục đại học.

Vào tháng 5 năm 2006, một phái đoàn đại diện cho Học viện Quốc gia Hoa Kỳ đã lưu diễn ở Việt Nam trong vài ngày và sau đó đã công bố một báo cáo có một danh sách dài các khuyến nghị để đại tu chính quyền giáo dục đại học ở Việt Nam. Một số khuyến nghị của các “chuyên gia hàng đầu người Mỹ” này (một thuật ngữ mà các tác giả sử dụng để mô tả bản thân trong bản Tóm tắt) có thể nói là khá ngớ ngẩn. Họ kêu gọi mọi trường đại học Việt Nam thành lập văn phòng của chính quyền gọi là “Trung tâm giảng dạy và học tập” và “Trung tâm đánh giá của trường đại học” về vấn đề sư phạm, và một “Văn phòng nghiên cứu” khuyến khích nghiên cứu. Ngoài ra, họ đề nghị thiết lập các quy trình kiểm định thể chế phức tạp hơn, cũng như xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá khóa học và đánh giá hàng năm của giảng viên. Nói cách khác, họ kêu gọi Việt Nam bắt chước hệ thống hiện tại ở các trường đại học Mỹ, thậm chí mặc dù điều này đòi hỏi phải có sự mở rộng lớn về số lượng giấy tờ tại các trường đại học Việt Nam và sự gia tăng lớn về quy mô hành chính (không có sự gia tăng tương ứng về số lượng giáo sư).

Cái này sai. Các trường đại học Việt Nam không cần quan liêu nhiều hơn. Họ cần thêm tài trợ và điều kiện tốt hơn cho các giáo sư và sinh viên.

Năm 2009, hai học giả Fulbright, T. Vallely và B. Wilkinson, đã viết một bài báo về giáo dục đại học ở Việt Nam đã chê bai và xúc phạm quốc gia các nhà nghiên cứu và giáo dục của nhà khoa học. Học giả Fulbright (có đồng tác giả) đã viết một báo cáo thứ hai vào năm đó, lặp lại những lời chỉ trích sâu sắc tương tự của nhà khoa học Việt Nam và các nhà lãnh đạo chính trị. Tuy nhiên, cả hai báo cáo đều không có một lời chỉ trích nào về hệ thống đại học ở Hoa Kỳ.

Ngoài việc xúc phạm các giáo sư và quan chức Việt Nam, người Fulbright còn xúc phạm sinh viên Việt Nam. Họ đề nghị rằng một trường đại học top đầu của Việt Nam tại Việt Nam vào lúc đầu chỉ nên có chương trình đại học và không có chương trình sau đại học bởi vì, họ viết, sinh viên Việt Nam ở trình độ quá thấp và không được chuẩn bị cho các nghiên cứu sau đại học. Giống như những tuyên bố khác của người Fulbright, tuyên bố này là sai. Trên thực tế, Việt Nam đã đào tạo sinh viên tiến sĩ toán học và các lĩnh vực khác trong nhiều thập kỷ với thành công đáng kể. Ngay cả trong những năm cực kỳ khó khăn của những năm chiến tranh, Việt Nam luôn có một số lượng lớn sinh viên tài năng, chăm chỉ và chuẩn bị tốt. Khi tôi ở Moscow vào năm 1974-75 với tư cách là một giáo sư hậu kỳ, tôi đã học được rằng trong số tất cả các sinh viên tiến sĩ quốc tế đang học tại Moscow vào thời điểm đó, người Việt Nam có tiếng là giỏi nhất. Và nhiều người trong số họ đang nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học và toán học hàng đầu của Liên Xô.

Hơn nữa, chúng ta có thể so sánh sinh viên đại học ở Việt Nam với các đối tác của họ ở Mỹ Chúng ta chỉ cần hỏi: Có bao nhiêu sinh viên khoa học và kỹ thuật tại một trường đại học tốt của Việt Nam sẽ không thể chia 25 × 108 cho 5 × 10-5, không thể đưa ra công thức cho diện tích hình tròn, hoặc không thể biết rằng (x − 1) (x − 2) là âm khi x nằm trong khoảng từ 1 đến 2?

Tất nhiên, có một số điều mà các trường đại học Hoa Kỳ làm tốt có thể xứng đáng được thi đua, đặc biệt là nếu chính phủ Việt Nam bắt đầu tài trợ đầy đủ cho các trường đại học của mình. Tương tự, Việt Nam có thể học được rất nhiều từ việc kiểm tra các trường đại học ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, tất cả đều duy trì một số trường đại học xuất sắc với sự lãng phí tài nguyên ít hơn nhiều so với các trường đại học Mỹ.

* Neal Koblitz là giáo sư toán học tại Đại học Washington, Seattle, Hoa Kỳ Bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của VnExpress International hoặc VnExpress

Nguồn: VnExpress.net